Người dùng trực tuyến

> Khách trực tuyến: 2

> Thành viên trực tuyến: 0

> Tổng số thành viên: 1,278
> Thành viên mới nhất: Lanh0912

Newest Members

> Lanh0912 - 07/06/2018
> nguyenduc7672 - 28/05/2018
> Thanhhong277 - 21/05/2018
> Yennhan98 - 20/05/2018
> Dudu - 12/05/2018
> nguyen thi kim ngan - 10/05/2018
> Hoangphuocthanh - 10/05/2018
> hoang thi thuy - 09/05/2018
> minhuyen - 08/05/2018
> doananhkiet - 07/05/2018


Bài viết




Tin nhắn

Bạn phải đăng nhập để gửi tin.

26-05-2018 22:59
Đã cập nhật điểm Đàm phán kinh doanh

25-05-2018 07:16
Thầy ơi xin lỗi thầy vì tụi e không check web thường xuyên nên sau khi up video xong không biết để gửi thầy điểm đã đàm phán của nhóm Công ty Anh Đào,Điểm đ

25-05-2018 06:56
E gửi thầy điểm nhóm e đai diện cty Thịnh vượng đạt 1355diem. Thành viên nhóm: Hoàng Thị Yên, Lê Thị Lụa, Phạm Thị Hiếu, Nguyễn Thị Cẩm Xuyên, Hồ thị Mi

23-05-2018 23:21
Em gửi thầy điểm nhóm em, nhóm em đại diện cty Thịnh Vượng và đạt được 1129 điểm. Thành viên nhóm : Lê Thị Thu Hảo, Lê Thúy Hằng, Lê Thị Như Nguyệt,

23-05-2018 01:45
E gửi Thầy điểm nhóm ạ, nhóm e địa diện bên cty bđs Thịnh vượng .. Điểm 1195 Thành viên: Huỳnh Thị Mỹ Diệu Phan Thị Thu Hằng Lê Thị Diễm My


Shoutbox Archive

Bình chọn

Bạn cần thông tin nào trên website này?

Tài liệu học tập
Tài liệu học tập
67% [8 Ý kiến]

Tài liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo
25% [3 Ý kiến]

Tin tức liên quan môn học
Tin tức liên quan môn học
8% [1 Ý kiến]

Thông tin giải trí
Thông tin giải trí
0% [0 Ý kiến]

Ý kiến: 12
Bạn phải đăng nhập để bình chọn.
Bắt đầu: 17.09.17

Lý thuyết kinh tế về hội nhập kinh tế quốc tếIn

Thời gian gần đây, có 4 cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề phúc lợi của hội nhập vùng và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế toàn cầu. Một trường phái [Bhagwati và Panagariya (1996), Bhagwati và Krueger (1995), Srinivasan (1998)] cho rằng hội nhập vùng là một ý tưởng tồi, làm giảm phúc lợi của các nước thành viên và tách rời các cố gắng mở rộng tự do hoá toàn cầu của WTO. Trong khi đó những người khác như Ethier (1998) lại lập luận rằng hội nhập vùng hỗ trợ hội nhập đa phương và là băng chứng cho thấy các nước nhỏ muốn tham gia vào hệ thống thương mại đa phương hiện đang bị thống trị bởi các nước đã phát triển. Xét trên khía cạnh khoảng cách, Krugman (1993) cho rằng có khả năng có các khối thương mại tự nhiên giữa các nước láng giềng mà trong đó chi phí vận chuyển thấp sẽ tạo ra các lợi ích nếu các nước này thành lập khối thương mại vùng. Thêm vào đó còn có một quan điểm cho rằng các nước tìm cách tham gia vào các hiệp định thương mại vùng vì sợ bị loại trừ, hay còn gọi là lý thuyết domino về hội nhập vùng của Balwin và Venables (1995).


Các phân tích lý thuyết về ảnh hưởng phúc lợi tiềm năng của tự do hoá thương mại phần lớn dựa trên các mô hình tân cổ điển chịu ảnh hưởng của Ricardo trong việc nhấn mạnh tới lợi thế so sánh tương đối và tác dụng của thương mại quốc tế giữa các nước. Theo như khung lý thuyết của Heckscher-Ohlin-Samuelson, tự do hoá toàn cầu sẽ giúp cho các nước đạt được cấu trúc sản xuất, thương mại và phân công lao động theo đúng lợi thế so sánh tương đối của họ, và điều này giúp tăng hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực và tăng phúc lợi toàn cầu. Vì thế, việc thành lập các khối kinh tế vùng (RTA) chỉ là lựa chọn thứ hai so với tự do hoá thương mại toàn cầu.


Lý thuyết của Viner (1950) và Meade (1955) là cơ sở cho các lý luận về việc thiết lập các khối kinh tế vào những năm 1950-1960. Lý thuyết này tập trung vào các khái niệm tĩnh như “tạo ra thương mại” và “chệch hướng thương mại”. Sự  “tạo ra thương mại” xảy ra khi một nước thành viên của khối kinh tế vùng tăng nhập khẩu hàng hoá từ các nước thành viên khác trong khối có chi phí sản xuất thấp hơn so với các nước ngoài khối, và giảm sản xuất các mặt hàng có thể nhập khẩu đó ở trong nước. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi do giá hàng nhập khẩu thấp hơn so với hàng trong nước. Việc hạ giá sẽ giúp tăng thu nhập thực tế, tăng nhu cầu tiêu dùng và điều đó sẽ giúp tăng nhập khẩu và thương mại cho cả các nước trong và ngoài khối kinh tế vùng.

 

Sự “chệch hướng thương mại” xảy ra khi thương mại giữa các nước thành viên trong khối tăng lên do thuế quan ưu đãi và thay thế cho các hàng nhập khẩu ngoài khối có giá thành rẻ hơn. “Chệch hướng thương mại” không chỉ gây tổn thất cho các nước trong khối do phải trả giá hàng nhập khẩu cao hơn mà còn gây tổn thất cho các nước ngoài khối do không xuất khẩu được hàng hoá hoặc bị bắt buộc phải giảm giá xuất khẩu của họ để cạnh tranh.


Bhagwati và Panagariya (1996) và Panagariya (1998, 1996) lập luận rằng RTA dường như sẽ làm giảm phúc lợi của các nước thành viên và cản trở tự do hoá thương mại đa phương. Do RTA tạo ra các ưu đãi đặc biệt cho các nước thành viên nên nó sẽ chuyển hướng thương mại từ các nước ngoàI khối có chí phí cung cấp thấp nhất. Việc chuyển hướng thương mại này dường như sẽ lấn át việc tạo ra thương mại, vì thế RTA sẽ làm giảm phúc lợi của các nước thành viên. Để chứng minh điêù này họ sử dụng mô hình Viner về khối kinh tế trong đó 2 nước loại bỏ các hàng rào thương mại song phương. Nếu các nước còn lại là nhà cung cấp có chi phí rẻ nhất và có chi phí không đổi, RTA với các nhà cung cấp có chí phí tăng sẽ chỉ có thể làm chệch hướng thương mại. Nước thực hiện tự do hoá sẽ bị thiệt do họ đã bỏ đi khoản thuế thu được từ hàng nhập khẩu của đối tác mới trong khi không đạt được giá nội địa thấp hơn đối với các hàng nhập khẩu bởi phần còn lại của thế giới mới là người đặt giá. Trong khung phân tích này, nếu đối tác thương mại chiếm tỷ lệ càng lớn trong hàng nhập khẩu thì sự mất mát doanh thu thuế càng lớn khi RTA được thành lập. Tương tự, đối với đối tác thương mại mà có mức thuế ban đầu cao thì họ cũng bị thiệt từ việc thiết lập RTA bởi vì doanh thu thuế bị phân phối lại cho người khác sẽ nhiều hơn.


De Melo và các cộng sự (1993) đưa ra một quan điểm cân bằng hơn về ảnh hưởng phúc lợi của RTA trong một khung phân tích có tính tới cả sự ‘tạo ra thương mại’ và “chệch hướng thương mại”. Trong trường hợp này các nước hạ thấp hàng rào thương mại đối với các đối tác trong khối sẽ có mức giá mới trong nước thấp hơn so với mức giá gồm cả thuế của các nhà cung cấp có chi phí ổn định (phần còn lại của thế giới), nhưng cao hơn so với trường hợp thương mại tự do. Tác động phúc lợi cho các nước giảm thuế nhập khẩu không rõ ràng: họ bị thiệt do chuyển hướng nhập khẩu ra khỏi các nhà cung cấp có chi phí thấp nhất, nhưng họ lại được lợi từ việc tổng nhập khẩu tăng lên. Trong trường hợp đó: (1) mức độ thuế nhập khẩu của một khu vực nào càng cao thì lợi ích của RTA càng cao và chi phí của RTA càng thấp; (2) thuế suất cho các nước ngoài khối sau khi RTA được thiết lập càng thấp thì khả năng giảm nhập khẩu các hàng có giá rẻ hơn của các nước ngoàI càng thấp; (3) mức độ bổ sung của nhu cầu nhập khẩu giữa các nước thành viên trong khối càng lớn thì việc thiết lập RTA mang lại lợi ích càng lớn, có nghĩa là lợi ích của RTA giữa các nước đang phát triển và đã phát triển (với cấu trúc nguồn lực khác nhau) sẽ rất lớn.


De Rosa (1998) đưa ra mô hình của Meade trong đó giá tương đối ở thị trường thế giới và nội địa đều có thể được điều chỉnh trong khung cân bằng tổng thể. Một kết quả của mô hình này là nếu một nước tham gia vào RTA tăng lượng nhập khẩu từ tất cả các nguồn khác nhau thì phúc lợi của nước đó sẽ tăng lên. Để đảm bảo rằng không có “chệch hướng thương mại”, De Rosa gợi ý rằng các nước thành viên trong khối nên cùng nhau giảm hàng rào thương mại đối với các nước ngoài khối. Có nghĩa là việc thiết lập RTA trong khung cảnh tự do hoá thương mại đa phương tăng lên có thể đem lại các ảnh hưởng về mặt phúc lợi khác với việc thiết lập RTA trong bối cảnh bảo hộ tăng lên.


Một nhược điểm cơ bản của các lý thuyết thương mại cổ điển và tân cổ điển là nó chỉ có thể chỉ ra chiều hướng của ảnh hưởng tuy nhiên lại không thể chỉ ra mức độ của các ảnh hưởng đó. Chính điều này thúc đẩy việc sinh ra các lý thuyết thương mại mới (new trade theory). Các lý thuyết thương mại mới không chỉ xem xét cấu trúc thị trường theo kiẻu tân cổ điển mà còn tính tới các đặc điểm khác như tính kinh tế theo quy mô, cạnh tranh không hoàn hảo, chuyển giao công nghệ, ngoại ứng thương mại và các ảnh hưởng động khác như quan hệ giữa tự do hoá thương mại, tăng trưởng năng suất tổng hợp của các đầu vào và tích tụ vốn. Các nghiên cứu thực chứng về RTA tính tới các yếu tố mới trong lý thuyết thương mại mới đều tìm ra rằng sự “tạo ra thương mại” lấn át mạnh mẽ sự “chệch hướng thương mại”, và dường như không có một sự “chệch hướng thương mại” nào cả vì sự tăng trưởng của các thành viên trong khối giúp mở rộng thương mại kể cả giữa các nước trong khối và giữa các nước trong khối với phần còn lại của thế giới.


Một trong các hiện tượng điển hình cho việc thành lập RTA là sự tăng lên mạnh mẽ của thương mại trong cùng ngành, đặc biệt là các hàng hoá trung gian. Đây chính là yếu tố chính để “tạo ra thương mại”. Nguyên nhân tiềm ẩn không thể giải thích bằng khung lý thuyết của Ricardo theo đó thương mại chủ yếu diễn ra giữa các nước có cấu trúc nguồn lực khác nhau. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng sự tăng lên của thương mại trong từng ngành là do RTA đưa ra các thị trường mở rộng ổn định và cho phép các hãng đạt được tính kinh tế thông qua chuyên môn hoá tốt hơn – quan điểm lý thuyết đưa ra bởi Adam Smith.


Khi các nước tăng cường thương mại do có các cấu trúc nguồn lực khác nhau theo kiểu Ricardo và lập ra các RTA tạo điều kiện có các thị trường ổn định và liên kết, thì nó cũng tạo ra các kích thích cho những người sản xuất tận dụng các lợi ích theo kiểu của Smith. Nếu như vậy, thì sẽ là quá thiển cận nếu dùng khung phân tích về “tạo ra thương mại’ và chệch hướng thương mại” của Viner-Meade để đánh giá ảnh hưởng phúc lợi của RTA bởi vì mô hình kiểu này bỏ qua các lợi ích kiểu Adam Smith.


Trong một vài hiệp định thương mại vùng, đã có bằng chứng cho thấy có sự tăng lên đáng kể thương mại trong từng ngành. Đồng thời, phần lớn tăng trưởng thương mại thế giới là do thương mại giữa các nước đã phát triển chứ không phải do thương mại giữa các nước đã phát triển và đang phát triển. Trong các mô hình tân cổ điển thì người ta cho rằng sẽ có nhiều thương mại giữa các nước có cấu trúc đầu vào khác nhau, nhưng thực tế trên đây lại cho thấy phần lớn sự “tạo ra thương mại” lại xuất hiện đối với các nước có điều kiện giống nhau. Vì thế cần nhớ rằng, sự khác biệt về các yếu tố sản xuất không phải là nhân tố chủ yếu cho tăng trưởng thương mại khi thiết lập các hiệp định thương mại vùng.


Share This Article
Social Sharing: Facebook Google Tweet This Favourites
URL:
Facebook Like:


310
#1 | nguyenhuuhoang3004 vào June 04 2015 17:39:25
Thầy ơi! Thầy có tài liệu sách báo điện tử, trang web nào về kinh tế (tất cả các ngành kinh tế), các lý thuyết kinh tế mới nhất, các nghiên cứu kinh tế của các nhà nghiên cứu nước ngoài cũ và mới... (nếu có tài liệu chính trị cũng cho em luôn nhé) gửi cho em thầy nhé!
mail: mavuong3004@gmail.com
Em xin chân thành cảm ơn thầy nhiều!

Gửi bình luận

Đăng nhập để gửi bình luận.

Đánh giá

Chỉ có thành viên mới được đánh giá.

Please login or register to vote.

Chưa có đánh giá.
1,121,540 unique visits